Thanh Hóa Lưu giữ ký ức quê hương

Di sản Nga Sơn

Lịch sử · Sự tích · Địa danh · Tư liệu xưa

Nhân vật

Nhà thơ Hữu Loan — tác giả “Màu tím hoa sim”, người làng Vân Hoàn

15 tháng 7, 2026

Hữu LoanMàu tím hoa simnhà thơVân HoànNga Thắngdanh nhân Nga Sơn
Cành hoa sim tím hồng nở bên những nụ hoa và lá xanh
Hoa sim (Rhodomyrtus tomentosa) — loài hoa đi vào nhan đề bài thơ “Màu tím hoa sim”. Ảnh minh họa chụp ở Đại Lải, Vĩnh Phúc, năm 2013. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, Wikimedia Commons, CC BY-SA 3.0.

Thông tin nhân vật

Tên khác
Tên thật Nguyễn Hữu Loan; người làng quen gọi “cụ Tú Loan”
Năm sinh – mất
1916 – 2010
Quê quán
Làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh (sau thuộc Nga Phượng, nay thuộc xã Nga Thắng)
Sự nghiệp
Nhà thơ, tác giả “Màu tím hoa sim”, Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (truy tặng 2012)

Hữu Loan (1916–2010), tên thật Nguyễn Hữu Loan, là nhà thơ người làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, Nga Sơn — nay thuộc xã Nga Thắng. Ông là tác giả “Màu tím hoa sim”, bài thơ khóc vợ viết năm 1949 đã được truyền tụng, phổ nhạc và thuộc lòng qua nhiều thế hệ người Việt.

Cuộc đời ông là chuỗi những lựa chọn khác người: đỗ tú tài thời Pháp nhưng đi dạy học và làm cách mạng; làm lãnh đạo huyện, tỉnh rồi bỏ về; làm biên tập báo Văn Nghệ ở Hà Nội rồi lại bỏ về quê thồ đá dưới chân núi Vân Hoàn. Năm 2012, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.

Quê hương Vân Hoàn và tuổi thơ

Hữu Loan sinh ngày 2/4/1916 ở làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh (Bảo tàng Văn học Việt Nam). Xã Nga Lĩnh năm 2019 nhập với Nga Nhân thành xã Nga Phượng; từ ngày 1/7/2025, vùng đất này thuộc xã Nga Thắng mới.

Người làng Vân Hoàn còn kể chuyện ông được “đẻ rơi” ở cánh đồng trước chùa Vân Lỗi (Sùng Nghiêm tự), dưới chân núi Vân Hoàn: mẹ ông đang làm đồng thì chuyển dạ, lê vào tới thềm chùa thì sinh con. Tương truyền đêm trước, sư trụ trì thấy một vầng sáng vàng trên núi và nói đứa trẻ sau này sẽ hơn người. Chuyện do ông Nguyễn Hữu Dũng, người sãi giữ chùa, gọi nhà thơ bằng chú, kể lại với Tuổi Trẻ năm 2020. Xem thêm chùa Vân Lỗi.

Nhà nghèo nhưng ông vẫn được cha mẹ cho đi học. Năm 1938, 22 tuổi, ông đỗ tú tài Tây ở Hà Nội — Báo Thanh Hóa ghi là tú tài toàn phần, ban triết học — điều hiếm có với một chàng trai nông thôn thời ấy (một bài của Thông tấn xã Việt Nam năm 2026 ghi năm đỗ là 1943). Người làng vì thế quen gọi ông là “cụ Tú Loan”.

Bản đồ huyện Nga Sơn cũ, xã Nga Phượng tô đỏ ở phía tây nam
Vị trí xã Nga Phượng (tô đỏ) trong huyện Nga Sơn theo địa giới 2019–2025. Xã gồm Nga Lĩnh và Nga Nhân cũ; làng Vân Hoàn quê Hữu Loan thuộc Nga Lĩnh. Nay toàn bộ thuộc xã Nga Thắng. Ảnh: Bùi Lê Việt Cường / Wikimedia Commons · CC BY-SA 4.0

Thầy giáo và người làm cách mạng

Có bằng tú tài, ông không ra làm công chức mà đi dạy học. Địa chí Thanh Hóa (tập II, 2004) còn ghi tên ông trong số ít giáo viên cao đẳng tiểu học thời ấy. Ông hay lui tới cửa hiệu bán giấy bút, sách vở của bà Đái Thị Ngọc Chất (bà Tham Kỳ, vợ ông Lê Đỗ Kỳ) ở số 48 Phố Lớn, nay là phố Trần Phú, Thanh Hóa. Bà quý chàng trai nghèo hiếu học, mời về kèm cho ba con trai; về sau, khi ông đã dạy ở trường Alexandre de Rhodes (do nhà thờ Công giáo ở Thanh Hóa lập), bà lại mời ông kèm cho cô con gái tên Ninh, khi ấy mới 8 tuổi (Tuổi Trẻ, 2020).

Về hoạt động cách mạng, Bảo tàng Văn học ghi ông tham gia từ năm 1936 qua phong trào Mặt trận Bình dân (Báo Thanh Hóa ghi là Đoàn thanh niên dân chủ), rồi hoạt động Việt Minh. Theo Lịch sử Đảng bộ xã Nga Lĩnh (dẫn theo Tuổi Trẻ), cuối năm 1942 – đầu năm 1943, cơ sở Việt Minh ở thị xã bị lộ, ông về quê; đầu năm 1943, tổ chức Việt Minh làng Vân Hoàn được thành lập do ông phụ trách. Trong nạn đói, ông dẫn đại biểu làng lên huyện đòi khất thuế và vận động cứu đói.

Cách mạng Tháng Tám 1945, ông là Phó Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn, chỉ huy lực lượng vào huyện đường tiếp nhận sự đầu hàng của huyện trưởng (Báo Thanh Hóa, 2017). Một tháng sau, ông làm Ủy viên văn hóa Ủy ban nhân dân lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty giáo dục, thông tin, thương chính và công chính. Rồi ông bỏ chức về quê. Nhà thơ Nguyễn Văn Túy kể với Tuổi Trẻ rằng đó là do bất đồng quan điểm, không phải bị kỷ luật: trong đợt quyên góp Tuần lễ vàng, ông thẳng thừng lên tiếng khi thấy có người trong bộ phận quản lý có dấu hiệu biển thủ.

Kháng chiến và bài thơ đầu tay “Đèo Cả”

Từ giữa năm 1946, ông làm công tác tuyên huấn ở Liên khu IV, trực tiếp phụ trách báo Chiến sĩ (báo Nhân Dân, 2011). Bài thơ đầu tay “Đèo Cả” (1946) ra đời khi ông vào vùng núi đèo Cả (Khánh Hòa) giữa những ngày đầu kháng chiến; năm 1947, bài “Quách Xuân Kỳ” tưởng niệm một bí thư hy sinh, đăng trên báo Thép mới (Nhân Dân, 2011).

Quốc lộ 1A uốn lượn qua sườn núi xanh ở đèo Cả
Quốc lộ 1A qua đèo Cả, giữa Phú Yên và Khánh Hòa, ảnh năm 2004. Năm 1946, Hữu Loan viết bài thơ đầu tay “Đèo Cả” ca ngợi người lính những ngày đầu kháng chiến ở vùng núi này. Ảnh: DHN / Wikimedia Commons · CC BY-SA 3.0

“Màu tím hoa sim” và người vợ đầu

Người con gái trong bài thơ là Lê Đỗ Thị Ninh, con ông Lê Đỗ Kỳ và bà Đái Thị Ngọc Chất — cô học trò nhỏ mà ông từng dạy kèm khi cô mới 8 tuổi. Theo lời kể của con trai út nhà thơ, ông Nguyễn Hữu Đán, sau ngày độc lập, cô nghe ông diễn thuyết vận động Tuần lễ vàng và tháo hết nữ trang ủng hộ cách mạng. Từ đầu năm 1947, tiêu thổ kháng chiến, gia đình bà sơ tán lên ấp Thị Long (Nông Cống); ông xin phép về làm một đám cưới giản dị tại đó. Không lâu sau, bà trượt chân chết đuối ở sông Chuồng khi ra bến giặt quần áo cùng mẹ (Tuổi Trẻ, theo lời em trai bà là ông Lê Đỗ Bình).

Các nguồn ghi khác nhau về thời gian:

  • Báo Nhân Dân (2011): cưới ngày 6/2/1948, bà mất sau đó 7 tháng.
  • Tuổi Trẻ (2020): bà mất ba tháng sau đám cưới.
  • Bia mộ bà ở nghĩa trang họ Lê Đỗ, làng Định Hòa (phường Đông Cương, Thanh Hóa) ghi sinh năm 1932, tạ thế 29-4-1949; gia phả họ Lê Đỗ ghi 1932–1948.
  • Chính Hữu Loan, trong cuộc trò chuyện năm 1995 in trên Báo Thanh Hóa, nói bà mất khi vừa tròn 18 tuổi.

Ba người anh “đi bộ đội” trong bài thơ là có thật: Lê Đỗ Khôi, tiểu đoàn trưởng, hy sinh ở đồi Him Lam; Lê Đỗ Nguyên, tức Trung tướng Phạm Hồng Cư; và Lê Đỗ An, tức Nguyễn Tiên Phong (lời Hữu Loan, Báo Thanh Hóa, 2017). Em trai bà, ông Lê Đỗ Bình, kể với Tuổi Trẻ rằng các chi tiết trong bài đều thật, kể cả đồi sim: quanh trang trại của gia đình ở vùng bán sơn địa Thị Long, “màu tim tím cứ trải dài đến tận núi”.

Bài thơ viết năm 1949 trên đường hành quân, được chép tay, truyền miệng khắp vùng kháng chiến trước khi Nguyễn Bính cho in lần đầu trên báo Trăm Hoa năm 1956. Có bản in nhan đề “Mầu tím hoa sim”. Hai câu thơ được nhắc nhiều nhất:

Nhưng không chết người trai khói lửa Mà chết người gái nhỏ hậu phương…

Ở miền Nam, bài thơ được Phạm Duy phổ thành “Áo anh sứt chỉ đường tà”; Dzũng Chinh, Anh Bằng, Duy Khánh cũng phổ nhạc (Tuổi Trẻ; Thông tấn xã Việt Nam). Bản “Chuyện hoa sim” của nhạc sĩ đồng hương Nga Sơn Anh Bằng nổi bật với giọng ca Như Quỳnh vào thập niên 1990 và được cấp phép phổ biến trong nước năm 2020 (Pháp Luật TP.HCM). Hữu Loan kể ông và Phạm Duy từng cùng là lính dưới quyền tướng Nguyễn Sơn thời kháng chiến, khi Thanh Hóa là nơi tụ hội của nhiều văn nghệ sĩ (Báo Thanh Hóa, 2017). Ngày 25/9/2006, Phạm Duy về thăm Hữu Loan tại nhà ở Vân Hoàn (Tuổi Trẻ). Tháng 10/2004, bản quyền bài thơ được Công ty Cổ phần Công nghệ Việt mua (Địa chí Thanh Hóa, dẫn theo Báo Thanh Hóa); Tuổi Trẻ ghi giá 100 triệu đồng.

Báo Văn Nghệ, Nhân văn – Giai phẩm và những năm thồ đá

Năm 1953, ông lấy bà Phạm Thị Nhu (sinh năm 1935), cô gái chăn bò hay đứng ngoài cửa lớp nghe ông giảng khi ông dạy học khoảng năm 1952 ở nơi nay là Trường THPT Mai Anh Tuấn. Bài “Hoa lúa” (1955) ông viết tặng bà; theo lời ông kể với người nhà, Nguyễn Bính trả 15 đồng nhuận bút để đăng bài này trên báo Trăm Hoa. Hai ông bà có 10 người con theo Tuổi Trẻ (một bài năm 1995 trên Báo Thanh Hóa ghi 8 con); bà mất năm 2013.

Sau năm 1954, ông ra Hà Nội làm biên tập báo Văn Nghệ, năm 1957 tham gia thành lập Hội Nhà văn Việt Nam (Tuổi Trẻ). Về quan hệ của ông với phong trào Nhân văn – Giai phẩm, các nguồn khác nhau:

  • Bảo tàng Văn học Việt Nam ghi ông tham gia phong trào (do Phan Khôi chủ trương) trong những năm 1956–1957.
  • Nhà văn Hoàng Quốc Hải và nhà thơ Nguyễn Văn Túy (người từng xác minh lý lịch để khôi phục lương hưu cho ông) khẳng định ông không bị kỷ luật, mà bỏ về vì bất đồng quan điểm với một số cá nhân (Tuổi Trẻ, 2020).
  • Một bài trên Báo Thanh Hóa (2017) viết ông có tham gia nhưng không làm thơ chống đối, rồi trở thành dân thường không lương, không phiếu gạo.

Về lại Vân Hoàn, ông sống bằng đủ nghề: kéo lưới, đi cày, đốn củi, xe thồ (năm 1959 ông theo đoàn xe thồ chở gạo — Báo Thanh Hóa), và nhất là thồ đá núi Vân Hoàn. Ông không vào hợp tác xã; ban đầu đẩy chiếc xe cút kít gỗ tự đóng, sau mua chiếc xe đạp Thống Nhất chế lại để thồ. Bà Nhu làm bánh ướt, bún mộc bán suốt gần 50 năm để cùng chồng nuôi con (Tuổi Trẻ, 2020). Một người từng phụ thồ đá với ông, ông Ngô Văn Đương, nhớ rằng không ai đi thồ đá mà giắt theo sách tiếng Tây, tiếng Tàu để đọc lúc nghỉ như ông.

Về sau, nhờ lý lịch không có kỷ luật, ông được khôi phục lương hưu ở mức chuyên viên 3 (Tuổi Trẻ). Tập thơ “Màu tím hoa sim” được xuất bản năm 1990 (Bảo tàng Văn học).

Qua đời, nơi an nghỉ và tôn vinh

Ông mất lúc 19 giờ ngày 18/3/2010 (mùng 3 tháng 2 năm Canh Dần) tại nhà riêng ở thôn Vân Hoàn, hưởng thọ 95 tuổi. Những năm cuối, ông yếu dần vì tuổi già nhưng vẫn minh mẫn; cuối năm 2009, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu về thăm nhân dịp bài thơ tròn 60 năm. Sáng 19/3/2010, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, về viếng; ông đọc điếu văn trong lễ tang mà người Nga Sơn còn nhắc là đông người đưa tiễn nhất vùng (Tuổi Trẻ).

Ông được an táng ở sườn núi Vân Hoàn, mộ hướng ra sông Mã — ngọn núi ông từng thồ đá. Gia đình dự định xây khu mộ thành nơi tưởng niệm Hữu Loan cho người yêu thơ (Tuổi Trẻ, 2020).

  • 2012: được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật (đợt 3) cho tập thơ “Màu tím hoa sim” (Bảo tàng Văn học; Báo Thanh Hóa).
  • 2024: tên Hữu Loan được bổ sung vào ngân hàng tên đường, phố của tỉnh Thanh Hóa theo Nghị quyết 33/2024/NQ-HĐND ngày 10/7/2024; danh mục này được giữ trong Nghị quyết 59/2025/NQ-HĐND (ghi “quê xã Nga Thắng”).
  • 2026: nhân 110 năm ngày sinh, Thông tấn xã Việt Nam có bài nhìn lại sự nghiệp ông.

Tác phẩm và đánh giá

Theo Địa chí Thanh Hóa (dẫn theo Báo Thanh Hóa), Hữu Loan để lại khoảng 60 bài thơ, tiêu biểu: “Cũng những thằng nịnh hót”, “Đèo Cả”, “Đêm”, “Màu tím hoa sim”, “Hoa lúa”, “Ngày mai”, “Thánh mẫu hài đồng”, “Tình thủ đô”… Thơ ông thường viết theo thể tự do, có âm điệu, giàu nhạc tính. Ngoài ra còn bài “Quách Xuân Kỳ” (1947) và bài thơ năm 1988 kể chuyện đẩy xe đá lên dốc dài dưới nắng (Tuổi Trẻ).

Nhà thơ Hữu Thỉnh đánh giá Hữu Loan là một cá tính thơ sáng tạo và độc đáo trong thơ Việt Nam hiện đại: khi táo bạo, khi dịu dàng, hòa quyện nhiệt huyết cách mạng với tình quê sâu nặng (Thông tấn xã Việt Nam, 2026). Báo Nhân Dân (2011) xem ông là một hiện tượng riêng trong thơ Việt Nam, vừa có cái hùng tráng của cuộc kháng chiến vừa có nỗi đau riêng của con người.

Bạn văn của ông, ông Hoàng Giáp, kể với Tuổi Trẻ rằng Hữu Loan giỏi tiếng Pháp, đọc nhiều thơ Pháp, nên “Màu tím hoa sim” mang phong cách hiện đại, bi tráng của thơ tình phương Tây. Báo Thanh Hóa và Tuổi Trẻ cùng nhắc tới cốt cách bộc trực, thẳng thắn của ông: chọn sống cùng khổ bằng lao động chân tay để tri thức của mình không bị áp đặt, lệ thuộc. Trong điếu văn, Hữu Thỉnh nói Hữu Loan “là sở hữu tinh thần hôm qua, hôm nay và mai sau của chúng ta”.

Niên biểu Hữu Loan

NămSự kiện
2/4/1916Sinh ở làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn
1936Tham gia phong trào Mặt trận Bình dân
1938Đỗ tú tài ở Hà Nội; sau đó đi dạy học
1942–1943Về quê, phụ trách tổ chức Việt Minh làng Vân Hoàn
8/1945Phó Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn; sau đó Ủy viên văn hóa Ủy ban lâm thời tỉnh
1946Tuyên huấn Liên khu IV, phụ trách báo Chiến sĩ; viết “Đèo Cả”
1948–1949Cưới bà Lê Đỗ Thị Ninh; bà mất đuối nước ở sông Chuồng
1949Viết “Màu tím hoa sim”
1953Lấy bà Phạm Thị Nhu
1955Viết bài “Hoa lúa” tặng vợ
Sau 1954Biên tập viên báo Văn Nghệ
1956“Màu tím hoa sim” in trên báo Trăm Hoa
1957Tham gia thành lập Hội Nhà văn Việt Nam
Cuối thập niên 1950Về quê Vân Hoàn, sống bằng nghề thồ đá
1990Xuất bản tập thơ “Màu tím hoa sim”
10/2004Bản quyền bài thơ được một công ty mua với giá 100 triệu đồng
18/3/2010Mất tại nhà riêng ở Vân Hoàn
2012Truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật

Xem thêm: Chùa Vân Lỗi · Xã Nga Thắng · Nhà thơ Trịnh Thanh Sơn

Nguồn tham khảo

Câu hỏi thường gặp

Nhà thơ Hữu Loan quê ở đâu?

Hữu Loan (Nguyễn Hữu Loan) quê làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn. Năm 2019 Nga Lĩnh nhập vào xã Nga Phượng; từ ngày 1/7/2025, vùng đất này thuộc xã Nga Thắng.

Bài thơ “Màu tím hoa sim” được viết năm nào, cho ai?

Bài thơ viết năm 1949, khóc người vợ đầu là bà Lê Đỗ Thị Ninh, mất khi còn rất trẻ. Bài được truyền miệng trong vùng kháng chiến rồi in lần đầu trên báo Trăm Hoa của Nguyễn Bính năm 1956.

Hữu Loan được Giải thưởng Nhà nước năm nào?

Ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2012 (đợt 3), theo Bảo tàng Văn học Việt Nam và Báo Thanh Hóa — không phải năm 2007 như một số trang ghi.

Hữu Loan mất năm nào, mộ ở đâu?

Ông mất lúc 19 giờ ngày 18/3/2010 (mùng 3 tháng 2 năm Canh Dần) tại nhà riêng ở thôn Vân Hoàn, hưởng thọ 95 tuổi; mộ ông ở sườn núi Vân Hoàn (Tuổi Trẻ).

Những nhạc sĩ nào đã phổ nhạc “Màu tím hoa sim”?

Bài thơ được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc, trong đó có Phạm Duy (bài Áo anh sứt chỉ đường tà), Dzũng Chinh, Anh Bằng và Duy Khánh (theo Tuổi Trẻ và Thông tấn xã Việt Nam).

Vì sao Hữu Loan về quê thồ đá?

Sau thời gian làm biên tập báo Văn Nghệ, ông bỏ về quê Vân Hoàn, sống bằng nghề thồ đá, kéo lưới, xe thồ. Bảo tàng Văn học ghi ông tham gia phong trào Nhân văn – Giai phẩm; một số người quen ông cho rằng ông không bị kỷ luật mà tự bỏ về vì bất đồng quan điểm.