Lịch sử
Khởi nghĩa Ba Đình (1886–1887) ở Nga Sơn — căn cứ ba làng chống Pháp
12 tháng 7, 2026

Nhắc đến Nga Sơn trong lịch sử cận đại, không thể không nhắc đến khởi nghĩa Ba Đình (1886–1887). Báo Thanh Hóa gọi đây là đỉnh cao của phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX ở Thanh Hóa: trên ba làng giữa đồng chiêm trũng, khoảng 300 nghĩa quân đã cầm cự hơn một tháng trước 2.500–3.500 quân Pháp có đại bác yểm trợ (số liệu tùy nguồn).
Căn cứ Ba Đình thất thủ đầu năm 1887, ba làng bị triệt hạ, nhưng tên gọi Ba Đình thì không mất. Gần sáu mươi năm sau, nó được đặt cho vườn hoa trước Phủ Toàn quyền ở Hà Nội — nơi ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập. Ở quê nhà, tên Ba Đình vẫn là tên xã, giữ nguyên qua cả đợt sắp xếp năm 2025.
Bối cảnh: chiếu Cần Vương và xứ Thanh
Sau các hiệp ước năm 1883 và 1884, triều Nguyễn chấp nhận sự chi phối của Pháp. Ngày 13/7/1885, nhân danh vua Hàm Nghi, chiếu Cần Vương được ban ra, kêu gọi văn thân, sĩ phu đứng lên giúp vua cứu nước (Thanh Niên). Theo Kỷ yếu hội thảo khoa học khởi nghĩa Ba Đình (NXB Thanh Hóa, 2018) mà VnExpress dẫn, trong chiếu Cần Vương lần thứ hai tháng 9/1885, Thanh Hóa được xác định là địa bàn chiến lược để xây dựng căn cứ lâu dài. Tháng 11/1885, quân Pháp đánh chiếm tỉnh Thanh Hóa.
Từ cuối năm 1885, các thủ lĩnh ở xứ Thanh tập hợp lực lượng: Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt ở Hậu Lộc; Tống Duy Tân ở Vĩnh Lộc; Hà Văn Mao ở miền núi phía tây; Cầm Bá Thước ở Thường Xuân (VnExpress). Về cuộc họp quyết định chọn Ba Đình, các nguồn ghi khác nhau:
- Theo Thanh Niên (2025), cuối năm 1885 các thủ lĩnh họp ở chùa Trang Các (Hà Trung). Phần lớn muốn lấy rừng núi làm căn cứ; riêng Trần Xuân Soạn cho rằng đồng bằng mới là vùng chiến lược vì đông người, nhiều của, giao thông thuận lợi.
- Theo VnExpress (2026) và Wikipedia, cuộc họp diễn ra đầu năm 1886 ở Bồng Trung (Vĩnh Lộc); Wikipedia ghi tháng 3/1886, tại Đồng Biên (Bồng Trung).
Kết quả thống nhất: Ba Đình làm căn cứ trọng yếu ở đồng bằng, giao cho Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Hoàng Bật Đạt; Mã Cao (Yên Định) do Trần Xuân Soạn, Hà Văn Mao xây dựng, giữ vai trò hỗ trợ phía tây.
Căn cứ ba làng giữa đồng chiêm trũng
Căn cứ được dựng trên ba làng Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mỹ Khê của huyện Nga Sơn. Mỗi làng có một ngôi đình, từ đình làng này nhìn thấy đình hai làng kia — tên Ba Đình ra đời từ đó (Thanh Niên). Ba làng nằm giữa vùng đồng chiêm trũng, được bao bọc bởi sông Hoạt và sông Chính Đại (VnExpress); ông Trịnh Văn Đắc, người nhiều năm sưu tầm tư liệu về Ba Đình, mô tả chúng nằm khoảng giữa lạch Càn và lạch Sung, biệt lập với các làng khác, có lũy tre bao quanh như tường thành.
Mùa mưa, căn cứ trông như một hòn đảo nổi giữa cánh đồng nước mênh mông (Thanh Niên). Địa thế ấy vừa che chắn, vừa cho phép nghĩa quân kiểm soát con đường thiên lý Bắc – Nam, nơi tuyến giao thông giữa Thanh Hóa và Ninh Bình đi qua.
Ba làng xưa thuộc xã Ba Đình cũ — theo Nghị quyết 646/NQ-HĐND tỉnh Thanh Hóa (2025), xã này rộng 6,67 km², có 5.608 người — nay là một phần của xã Ba Đình mới.

Dựng “con nhím” giữa đồng chiêm
Toàn bộ dân ba làng được huy động. Người già, trẻ em đi nơi khác; trai tráng và một phần phụ nữ ở lại đào hào, đắp lũy, chuyển lương thực. Mỗi làng góp 30 chiếc rọ lớn, 100 cây tre tươi còn nguyên ngọn và 10 gánh rơm; có lúc dân chỉ trong một đêm đã đắp hơn một cây số tường đất (VnExpress).
Hệ thống phòng thủ gồm nhiều lớp:
- Vòng ngoài là lũy tre và các chốt gác.
- Tiếp đến là hào nước sâu khoảng 3–4 m và các bãi chông tre.
- Trong cùng là thành đất dày 8–10 m (VnExpress); Thanh Niên mô tả thành cao 3 m, chân rộng 8–10 m, mặt thành đủ rộng để đi lại. Trên mặt thành xếp những rọ tre nhồi đất, bùn trộn rơm rạ, vừa gia cố vừa làm chỗ nấp bắn.
- Ba đồn chính ứng với ba làng, nối nhau bằng giao thông hào: đồn Thượng ở Thượng Thọ do Nguyễn Viết Toại chỉ huy; đồn Trung ở Mậu Thịnh do Đinh Công Tráng phụ trách; đồn Hạ ở Mỹ Khê do Phạm Bành và Nguyễn Khế đảm nhiệm (VnExpress).
Theo ông Trịnh Văn Đắc, ngoài ba đồn chính còn có các đồn vòng ngoài: Thanh Đán (tây bắc), Hang Giơi và Răng Cưa (đông bắc), núi Thúc (bắc), Xa Loan và Tố Hoàng (đông), Tri Cụ (nam) và một trạm quan sát trên núi Nga Châu. Phía sau là các căn cứ hỗ trợ Phi Lai, Quảng Hóa, Mã Cao (Thanh Niên). Các sĩ quan Pháp ví Ba Đình như “con nhím giữa vùng đồng chiêm trũng”.
Lực lượng thường trực khoảng 300 người, chia thành 10 cơ đội, gồm người Kinh, Mường, Thái, tuyển mộ ở Nga Sơn, Hậu Lộc, Hà Trung. Vũ khí chủ yếu là súng hỏa mai, súng kíp, súng thần công, cung, nỏ, giáo mác và chông tre — chênh lệch rất xa so với bộ binh và pháo binh Pháp (VnExpress, Thanh Niên). Đông đảo dân địa phương tham gia vận chuyển lương thực, nuôi quân, tải thương.
Những người dựng cờ Ba Đình
| Thủ lĩnh | Quê quán, xuất thân | Vai trò và kết cục |
|---|---|---|
| Phạm Bành | Làng Tương Xá, Hậu Lộc; từng là Án sát Nghệ An | Đứng đầu căn cứ trên danh nghĩa, chỉ huy đồn Hạ. Bị bắt khi gia đình bị khống chế; uống thuốc độc tự vẫn sau khi mẹ và con được thả (VnExpress) |
| Đinh Công Tráng (1842–1887) | Làng Tràng Xá, nay thuộc xã Thanh Lâm, tỉnh Ninh Bình; từng là chánh tổng, đánh trận Cầu Giấy năm 1883 | Chỉ huy xây thành, đắp lũy và trực tiếp tác chiến, giữ đồn Trung. Hy sinh ngày 5/10/1887 ở Nghệ An |
| Hoàng Bật Đạt (1827–1887) | Làng Bộ Đầu, Hậu Lộc; đỗ cử nhân năm 1868 | Cùng xây dựng căn cứ; sau bị Pháp bắt và chém đầu (Wikipedia) |
| Nguyễn Viết Toại | — | Chỉ huy đồn Thượng (VnExpress) |
| Nguyễn Khế | — | Cùng Phạm Bành giữ đồn Hạ; tử trận (Wikipedia) |
| Hà Văn Mao | Người Mường | Xây dựng căn cứ Mã Cao; bị bắt rồi tuẫn tiết (Thanh Niên) |
Thanh Niên (12/2025) còn kể Trần Xuân Soạn, Cầm Bá Thước, Nguyễn Đôn Tiết, Lê Toại trong số văn thân, thổ hào cùng lập chiến khu. Theo Wikipedia, Nguyễn Đôn Tiết bị bắt từ tháng 3/1886, bị đày ra Côn Đảo và mất ở đó năm 1887.
Cuộc vây hãm mùa đông 1886–1887
Từ căn cứ, nghĩa quân tỏa đi phục kích các đoàn xe vận tải trên đường Bắc – Nam, tập kích toán lính tuần tiễu, đánh cả đồn Tam Cao trên tuyến giao thông huyết mạch. Pháp quyết định phải nhổ cái gai này.
| Thời điểm | Diễn biến |
|---|---|
| 18/12/1886 | Khoảng 500 lính Pháp, có pháo 80 ly yểm trợ, tấn công từ hai hướng: trung tá Metzinger từ tây nam, trung tá Dodds từ đông bắc. Hướng núi Thúc gặp kháng cự quyết liệt; cả hai cánh đều bị đánh lui |
| Đầu tháng 1/1887 | Đại tá Brissaud được giao chỉ huy chiến dịch, Pháp chuyển sang vây chặt và tăng quân |
| 6/1/1887 | Brissaud chia ba mũi, có pháo binh yểm trợ, đánh vào căn cứ; nghĩa quân vẫn giữ vững |
| 20/1/1887 | Đợt tấn công thứ năm: công binh dùng vòi phun dầu đốt lũy tre, đại bác bắn dồn dập (Thanh Niên) |
| Đêm 20 rạng 21/1/1887 | Nghĩa quân mở đường rút về căn cứ Mã Cao |
| 21/1/1887 | Quân Pháp vào Ba Đình, triệt hạ nhà cửa, buộc triều Nguyễn xóa tên ba làng khỏi bản đồ hành chính |
Về quân số Pháp, các nguồn chênh nhau. VnExpress ghi khoảng 2.500 quân viễn chinh cùng pháo binh hạng nặng. Thanh Niên viết Brissaud mang gần 2.500 quân, sau tăng lên 3.500. Nhà nghiên cứu Dương Đình Lập (Căn cứ địa trong phong trào Cần Vương chống Pháp 1885–1896, Thanh Niên dẫn) thống kê 3.530 lính (1.580 lính Pháp), 78 sĩ quan, 25 khẩu đại bác và 4 pháo hạm, về sau tăng lên 36 khẩu pháo. Wikipedia tiếng Việt ghi 76 sĩ quan và 3.500 quân, có ngày bắn tới 16.000 quả đạn pháo.
Về thời gian, Báo Thanh Hóa và Dương Đình Lập ghi nghĩa quân chiến đấu 32 ngày đêm; VnExpress tính từ 18/12/1886 đến 21/1/1887, khoảng 34 ngày đêm. Về thương vong, Dương Đình Lập viết nghĩa quân đã diệt và làm bị thương hàng trăm lính địch; còn theo số liệu phía Pháp mà Wikipedia tiếng Anh dẫn từ sử gia Charles Fourniau và A. Thomazi, quân Pháp chỉ có 19 người chết, 45 người bị thương trong cả cuộc vây hãm.
Sau Ba Đình: Mã Cao và số phận các thủ lĩnh
Rời Ba Đình, một bộ phận nghĩa quân theo Đinh Công Tráng về Mã Cao. Ngày 2/2/1887, Brissaud bắn phá dữ dội và chiếm Mã Cao sau khi nghĩa quân rút lên vùng rừng núi Ngọc Lặc (Thanh Niên). Phạm Bành và Hà Văn Mao lần lượt bị bắt rồi tuẫn tiết; Hoàng Bật Đạt bị bắt và bị giết. Đinh Công Tráng vào Nghệ An gây dựng lại lực lượng và hy sinh ngày 5/10/1887 — Thanh Niên ghi ông mất trong một trận đụng độ ở làng Trung Yên, nay thuộc xã Thuần Trung, tỉnh Nghệ An. Cuộc khởi nghĩa Ba Đình kết thúc.
Đánh giá cuộc khởi nghĩa, TS Lê Ngọc Tạo (Hội Khoa học Lịch sử Thanh Hóa) nói với VnExpress rằng Ba Đình thất bại về quân sự nhưng cho thấy khả năng huy động nhân lực, vật lực của cư dân địa phương; đồng thời một căn cứ cố định khó trụ lâu trước lực lượng và hỏa lực vượt trội. Wikipedia tiếng Anh nhận xét Đinh Công Tráng đã trông đợi các thủ lĩnh khác đánh vào phía sau quân Pháp trong lúc ông giữ mặt trước, nhưng sự trợ giúp ấy gần như không đến — thất bại ở Ba Đình phơi bày sự thiếu thống nhất của phong trào Cần Vương.
Từ ba làng Nga Sơn đến Quảng trường Ba Đình
Nhiều người nghĩ tên Ba Đình được chọn khi đặt tên cho quảng trường nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập. Thực tế, tên gọi có trước ngày 2/9/1945:
- Bác sĩ Trần Văn Lai được Chính phủ Trần Trọng Kim bổ nhiệm làm Đốc lý Hà Nội ngày 20/7/1945 và giữ chức đến 19/8/1945. Ông chủ trương thay các tên đường, vườn hoa tiếng Pháp bằng tên danh nhân, sự kiện Việt Nam.
- Vườn hoa Puginier trước Phủ Toàn quyền Đông Dương được đổi thành vườn hoa Ba Đình, để ghi nhớ cuộc khởi nghĩa Ba Đình và thủ lĩnh Đinh Công Tráng (VnExpress, Thanh Niên).
- Chỉ ít tuần sau, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại chính vườn hoa này. Từ đó nơi đây được gọi là Quảng trường Ba Đình — quảng trường rộng nhất Việt Nam, khoảng 32.000 m² — và sau này tên Ba Đình được đặt cho một quận của Hà Nội (VnExpress).

Di tích căn cứ Ba Đình hôm nay
Năm 1992, Khu căn cứ khởi nghĩa Ba Đình được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia (Báo Thanh Hóa, VnExpress). Sau gần 140 năm, phần lớn dấu tích của căn cứ không còn; tinh thần Ba Đình được giữ lại nhờ những người như ông Trịnh Văn Đắc, 85 tuổi, sĩ quan quân đội nghỉ hưu, bỏ nhiều năm sưu tầm tư liệu (Thanh Niên).
Theo Báo Văn hóa (1/2026), dự án bảo tồn, tôn tạo Khu căn cứ khởi nghĩa Ba Đình:
- Được UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt ngày 30/6/2022, tổng mức đầu tư 95,5 tỷ đồng (gần 74 tỷ cho xây dựng); chủ đầu tư là Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực Nga Sơn.
- Gồm đền thờ các thủ lĩnh và nghĩa quân (tiền bái, hậu cung), tả vu, hữu vu, phù điêu, nghi môn nội, cầu vào trung tâm căn cứ và một đoạn hào lũy phỏng dựng phía trước, trên diện tích khoảng 1,6 ha (Thanh Niên, VnExpress).
- Do bão lũ năm 2025, thời hạn hoàn thành được gia hạn chậm nhất đến tháng 6/2026. Ghi nhận ngày 14/1/2026, khối lượng đạt khoảng 90%.
Chiều 20/8/2026, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đầu Thanh Tùng kiểm tra công tác chuẩn bị Lễ kỷ niệm 140 năm Khởi nghĩa Ba Đình (1886–2026) tại xã Ba Đình. Xã cho biết một số hạng mục chưa được bàn giao, đường vào di tích hẹp và xuống cấp, chưa có bãi đỗ xe; xã phối hợp với chùa Hợp Long và chùa Sùng Quang chuẩn bị lễ dâng hương, cầu siêu (Báo Văn hóa). Cuối tháng 8/2026, VnExpress cho biết công trình đang chuẩn bị khánh thành.
Xem thêm: Đinh Công Tráng · Xã Ba Đình · Sắp xếp đơn vị hành chính Nga Sơn · Dòng thời gian lịch sử Nga Sơn
Nguồn tham khảo
- VnExpress — Cuộc khởi nghĩa được đặt tên cho quảng trường lớn nhất Việt Nam (30/8/2026)
- Thanh Niên — 140 năm Phong trào Cần Vương (1885 – 2025): Quyết tử chiến đấu ở căn cứ Ba Đình (25/12/2025)
- Thanh Niên — Trở lại cứ địa Ba Đình (2025)
- Báo Thanh Hóa — Thanh Hóa xưa và nay: Ba Đình – khúc tráng ca bất tử (8/6/2026)
- Báo Văn hóa — Ba Đình Thanh Hóa “hồi sinh” trước thềm kỷ niệm 140 năm (1/2026)
- Báo Văn hóa — Thanh Hóa gấp rút chuẩn bị Lễ kỷ niệm 140 năm Khởi nghĩa Ba Đình (8/2026)
- HĐND tỉnh Thanh Hóa — Nghị quyết 646/NQ-HĐND về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã năm 2025 (25/4/2025)
- Wikipedia — Khởi nghĩa Ba Đình; Cần Vương movement (chỉ dùng đối chiếu)
Câu hỏi thường gặp
Khởi nghĩa Ba Đình diễn ra ở đâu, nay thuộc xã nào?
Căn cứ Ba Đình được dựng trên ba làng Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mỹ Khê của huyện Nga Sơn, thuộc xã Ba Đình cũ. Từ ngày 01/7/2025, nơi đây thuộc xã Ba Đình mới (hợp thành từ Ba Đình cũ, Nga Vịnh, Nga Trường và Nga Thiện), tỉnh Thanh Hóa.
Ai lãnh đạo khởi nghĩa Ba Đình?
Hai thủ lĩnh chính là Phạm Bành và Đinh Công Tráng, cùng Hoàng Bật Đạt, Nguyễn Viết Toại, Nguyễn Khế và nhiều văn thân khác. Theo tư liệu Thanh Niên dẫn, Phạm Bành đứng đầu trên danh nghĩa, còn Đinh Công Tráng trực tiếp chỉ huy xây thành và tác chiến.
Vì sao gọi là Ba Đình?
Căn cứ gồm ba làng, mỗi làng có một ngôi đình; đứng ở đình làng này có thể nhìn thấy đình của hai làng kia, nên gọi là căn cứ Ba Đình (Thanh Niên, 2025).
Trận chiến ở Ba Đình kéo dài bao lâu?
Báo Thanh Hóa và nhà nghiên cứu Dương Đình Lập ghi nghĩa quân chiến đấu 32 ngày đêm; VnExpress tính từ ngày 18/12/1886 đến 21/1/1887, khoảng 34 ngày đêm. Đêm 20 rạng 21/1/1887 nghĩa quân rút về căn cứ Mã Cao.
Vì sao quảng trường ở Hà Nội mang tên Ba Đình?
Tháng 7–8/1945, Đốc lý Hà Nội Trần Văn Lai đổi tên vườn hoa Puginier thành vườn hoa Ba Đình để ghi nhớ cuộc khởi nghĩa Ba Đình ở Nga Sơn. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại đây; từ đó nơi này được gọi là Quảng trường Ba Đình.
Di tích căn cứ Ba Đình hiện nay thế nào?
Khu căn cứ được xếp hạng di tích quốc gia năm 1992. Dự án bảo tồn, tôn tạo 95,5 tỷ đồng được duyệt ngày 30/6/2022, rộng khoảng 1,6 ha; đến giữa tháng 1/2026 đạt khoảng 90% khối lượng và được gia hạn hoàn thành chậm nhất tháng 6/2026 (Báo Văn hóa).