Thanh Hóa Lưu giữ ký ức quê hương

Di sản Nga Sơn

Lịch sử · Sự tích · Địa danh · Tư liệu xưa

Lịch sử

Nghề chiếu cói Nga Sơn — lịch sử, cách làm chiếu và vùng cói xứ Thanh

3 tháng 7, 2026

chiếu cói Nga Sơnnghề dệt chiếulàng nghềcây cóichỉ dẫn địa lýđặc sản Thanh Hóa
Hai người phụ nữ ngồi dưới nền nhà dệt chiếu cói, một người luồn sợi cói, một người dập go
Dệt chiếu cói theo lối ngồi truyền thống, hai người một khung: một người luồn cói, một người dập go — ảnh minh họa chụp năm 2019 ở miền Bắc Việt Nam, không rõ địa điểm. Ảnh: Hong Xuan, Wikimedia Commons, CC BY 3.0.

Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng,
Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông.

— Tố Hữu, Việt Bắc (1954)

Trong bài thơ Việt Bắc, khi kể những sản vật nổi tiếng của miền xuôi, Tố Hữu nhắc chiếu Nga Sơn đầu tiên. Câu thơ quen đến mức nhiều người, nhiều báo gọi nó là ca dao. Với người Nga Sơn, cây cói và manh chiếu không chỉ là sinh kế mà còn là niềm tự hào của cả vùng đất bãi bồi ven biển Thanh Hóa.

Bài này kể lại nghề chiếu cói Nga Sơn: cói mọc ở đâu, người ta cắt, chẻ, phơi, dệt ra sao, các loại chiếu, thời hoàng kim chiếu đi Đông Âu, văn bằng chỉ dẫn địa lý năm 2011 và những khung dệt còn lại hôm nay. Phần cói mỹ nghệ, OCOP và xuất khẩu được viết riêng ở bài Cói Nga Sơn thời hội nhập.

Cây cói trên đất bãi bồi

Nga Sơn là vùng đất bồi lấn biển, nhiều bãi triều nước lợ. Báo Tuổi Trẻ Cuối tuần (2012) viết rằng trước đây cói mọc hoang dại trên các bãi bồi, về sau mới được trồng thành ruộng ở vùng nước mặn. Theo Bộ Công Thương và Báo Công giáo và Dân tộc, ở 8 xã nằm dọc bờ biển, ngoài sú vẹt thì cói gần như là loại cây duy nhất hợp đất.

Các xã trồng nhiều cói được báo chí nhắc đến (tên trước sắp xếp năm 2025):

Xã cũNay thuộc xã
Nga LiênHồ Vương
Nga Tân, Nga Tiến, Nga TháiTân Tiến
Nga Thủy, Nga ThanhNga Sơn
Nga ĐiềnNga An

Wikipedia ghi những năm 1980 chỉ có Nga Thủy, Nga Tân, Nga Thanh, Nga Liên, Nga Tiến làm nghề trồng cói, dệt chiếu; về sau cả Ba Đình, Nga Thạch cũng trồng. Bà Nguyễn Thị Thành ở thôn Đô Lương, xã Nga Thủy kể với Báo Người Lao Động rằng Nga Thủy từng là xã trồng cói nhiều nhất nhì huyện, gần như nhà nào cũng có vài người dệt chiếu.

Cói Nga Sơn được tả là sợi nhỏ, dai, óng mượt; khi tươi thân xanh bóng, phơi khô thì trắng đẹp (Bộ Công Thương, Báo Lạng Sơn). Điều làm nên tiếng là cây cói dài: khi đưa tin về chỉ dẫn địa lý, Báo Lạng Sơn nhấn mạnh loại cói dài trên 1,45 m chuyên để dệt chiếu, ít nơi trồng được.

Cánh đồng cói xanh mướt, xa xa là hàng dừa
Đồng cói ở vùng Nga Tân (nay thuộc xã Tân Tiến), tháng 7/2011. Theo chú thích của tác giả, một ha cói có thể cho doanh thu gấp khoảng bốn lần trồng lúa. Ảnh: Mathias Eick, EU/ECHO / Flickr · CC BY-SA 2.0

Một năm hai vụ cói

Báo Tin tức (TTXVN, 2021) và Dân Việt (2025) đều ghi cói Nga Sơn có hai vụ: vụ chiêm thu hoạch tháng 6–7, vụ mùa thu hoạch tháng 10–11. Tuổi Trẻ Cuối tuần (2012) lại viết hai mùa thu hoạch kéo dài “từ tháng 3 đến tháng 8 và tháng 8 đến tháng 3 năm sau”. Wikipedia mô tả mùa cắt chính vào hè, tháng 6 đến tháng 9, khi cói cao khoảng 1,7–1,8 m.

Mùa thu hoạch trùng những ngày nắng nóng nhất. Bà Vũ Thị Thuần (xã Nga Thanh) kể người dân ra đồng từ 3–4 giờ sáng để tránh nắng; khi nắng lên thì căng tấm vải giữa đồng làm chỗ trú; khoảng 4 người mới cắt xong một sào trong một ngày (Dân Việt). Có hôm người ta dậy từ 2 giờ sáng (Báo Tin tức).

Cói được cắt bằng liềm chuyên dụng — Wikipedia tả loại liềm hình số 7, rèn bằng thép tốt. Vừa cắt vừa giũ sạch cỏ rác, sợi chết khô, rồi phân loại theo độ dài. Wikipedia chia ba loại: dài nhất khoảng 1,75 m để dệt chiếu đôi 1,6 m và 1,5 m; loại trung bình khoảng 1,5 m; loại ngắn dệt chiếu đơn. Cói chết gọi là “bổi”, dùng đun nấu, lợp nhà.

Năm 2021, anh Mai Văn Học (xã Nga Thanh) cho biết 2 sào cói nhà anh đạt trên 4 tạ/sào, bán được 7–8 triệu đồng/sào; cói loại 1 khi ấy giá 19.000 đồng/kg, loại 2 khoảng 16.000–17.000 đồng/kg (Báo Tin tức). Sau mỗi vụ, người trồng làm cỏ, bón phân để cói mọc lại cho vụ sau.

Một người đàn ông đội mũ cối đứng trên đống đất và gốc cói vừa đào lên cạnh ruộng cói, phía xa là núi đá vôi
Ruộng cói ở vùng Nga Tân (nay thuộc xã Tân Tiến), tháng 7/2011, bên cạnh là đất và gốc cói vừa đào lên. Theo chú thích của tác giả, cứ 5–7 năm ruộng cói lại phải đào lên trồng mới — một việc rất nặng nhọc. Ảnh: Mathias Eick, EU/ECHO / Flickr · CC BY-SA 2.0

Chẻ cói, phơi cói

Cắt xong phải chẻ ngay. Báo Tin tức và Dân Việt đều nhấn mạnh đây là công đoạn quan trọng: nếu để cói héo sẽ rất khó chẻ. Trước khi chẻ, cói được nhặt sạch bông, chặt gọn gốc ngọn. Mỗi cây chẻ làm hai mảnh, bằng tay hoặc bằng máy — Wikipedia tả loại máy gồm hai trụ gỗ tròn, ở giữa có lưỡi dao sắt.

Cói chẻ xong được phơi ngay trên ruộng vừa gặt, trên mặt đê hoặc dọc hai bên đường, xếp thẳng hàng hoặc theo hình rẻ quạt. Về thời gian phơi, mỗi nguồn nói một khác:

  • Gặp nắng gắt mùa hè, chỉ cần phơi từ sáng đến chiều là cói khô và lên màu đẹp (Báo Tin tức, Dân Việt).
  • Tuổi Trẻ Cuối tuần viết cói chẻ xong phơi khô khoảng bốn nắng là dệt được chiếu.
  • Wikipedia mô tả cói một nắng gọi là “ưởn”, được đánh đống, che bổi; sau ba nắng có màu trắng xanh thì bó lại, gọi là “gù”.

Mùa cói cũng là mùa mưa, nên người làm cói phải canh trời; cói ngấm nước mưa sẽ xấu và mất giá. Cói khô được bán cho đại lý hoặc giữ lại dệt chiếu; những sợi kém hơn đem xe sợi.

Một người phụ nữ đội nón, đeo khẩu trang bên những bó cói nhuộm xanh, đỏ, vàng đang phơi
Phơi cói đã nhuộm màu xanh, đỏ, vàng để dệt chiếu hoa. Ảnh minh họa chụp ngày 8/3/2023 ở Phú Yên, không phải Nga Sơn. Ảnh: Proxodimec / Wikimedia Commons · CC BY-SA 4.0

Dệt chiếu: hai người một khung

Hết mùa thu hoạch, người vùng cói ở nhà dệt chiếu, nhiều nhà dệt cho đến vụ sau. Khung dệt gồm những sợi đay căng song song, cách nhau khoảng 1 cm, luồn qua lỗ của chiếc go (Wikipedia). Ở xóm 5, xã Nga Liên, ông Vũ Văn Chiến gọi chiếc go là “khổ” và hàng sợi đay là “khung trân” (Báo Công giáo và Dân tộc, 2023).

Mỗi khung cần hai người. Một người nâng go, lúc ngửa lúc úp để hàng sợi đay mở thành khe; người kia dùng cây văng bằng tre, nứa luồn từng sợi cói qua khe, rồi go dập xuống cho chặt. Bà Bùi Thị Luyến, vợ ông Chiến, chia bó cói làm hai, một nửa đầu ngọn một nửa đầu gốc, luồn xen kẽ cho mặt chiếu đều và mịn. Tiếng go “thình thịch”, tiếng văng “lạch cạch” từng là âm thanh quen của các làng cói.

Theo Wikipedia, hai người dệt một lá chiếu trơn mất khoảng 3–4 giờ; chiếu cải hoa phải nhuộm cói bằng phẩm màu và mất cả ngày mới xong một lá. Chiếu trơn màu trắng thường được in hoa văn rồi hấp cho chín màu — Tuổi Trẻ Cuối tuần ghi nhận cơ sở in chiếu Hồng Cẩm ở xã Nga Thanh (nay thuộc xã Nga Sơn) làm công việc này. Dệt xong, đầu sợi đay được ghim lại để cói không bung khi dùng.

Các loại chiếu được nhắc đến: chiếu cải, chiếu đậu, chiếu kẻ sọc; chiếu đơn khổ khoảng 0,8–1,2 m, chiếu đôi 1,5–1,6 m; chiếu lẫy, chiếu hoa dùng ba màu đỏ, xanh, vàng cùng màu trắng tự nhiên của cói (Báo Công giáo và Dân tộc). Bộ Công Thương còn kể các sản phẩm mới như chiếu du lịch gấp hai, gấp ba, gấp bốn.

Sản vật tiến vua và thời chiếu đi Đông Âu

Về gốc tích nghề, các nguồn chủ yếu dựa vào lời kể. Bộ Công Thương, Báo Người Lao Động và Báo Công giáo và Dân tộc cùng ghi: theo lời các cụ, chiếu cói Nga Sơn cùng chiếu Kim Sơn (Ninh Bình) từng là vật cống tiến triều đình, được vua chúa, quý tộc ưa dùng. Bộ Công Thương và Sở VHTTDL Thanh Hóa viết nghề đã trải qua hơn 150 năm. Báo Dân Việt (2025) còn viết nghề bắt nguồn từ thời vua Đinh Tiên Hoàng — chúng tôi chưa tìm thấy tư liệu nào chứng minh điều này.

Thời hiện đại thì có ghi chép rõ hơn:

  • Từ những năm 1965, chiếu đậu, chiếu hoa cùng các mặt hàng cói Nga Sơn đã đi khắp đất nước và ra nước ngoài, chủ yếu sang Đông Âu (Bộ Công Thương).
  • Bà Trần Thị Việt, giám đốc Công ty TNHH Việt Trang, kể với Báo Người Lao Động rằng sau ngày độc lập, nghề dệt chiếu phát triển mạnh để xuất sang Liên Xô và Đông Âu; đến khoảng năm 1989 thị trường này mất, chiếu không bán được, nhiều gia đình lao đao, nợ nần, phải bỏ xứ đi làm ăn.
  • Báo Thanh Hóa (2024) ghi từ năm 1991 trở về trước, cói Nga Sơn xuất sang Liên Xô và một số nước Đông Âu nhưng chỉ dừng ở chiếu cói dệt số lượng lớn. Bà Việt nhớ lại khi ấy xuất khẩu chủ yếu nhờ “ngoại giao”, có sự can thiệp của nhà nước hai bên; mất thị trường truyền thống là cả doanh nghiệp, người dệt lẫn người trồng cói cùng điêu đứng.
Ảnh đen trắng một cụ ông đội khăn xếp ngồi giữa những tấm chiếu cói bày bán
Cụ ông bán chiếu cói ở Bắc Kỳ, in trong sách Le Tonkin en 1900 xuất bản nhân Triển lãm thế giới Paris năm 1900. Ảnh tư liệu, không ghi địa điểm — dùng minh họa nghề chiếu xưa, không phải ảnh chụp ở Nga Sơn. Ảnh: Không rõ tác giả / Wikimedia Commons · Phạm vi công cộng

Chỉ dẫn địa lý “Nga Sơn” cho cói (2011)

Ngày 13/10/2011, Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý số 00028, tên “Nga Sơn”, cho sản phẩm cói; chủ thể quản lý là UBND huyện Nga Sơn (danh sách chỉ dẫn địa lý của Cục Sở hữu trí tuệ). Theo Báo Lạng Sơn đưa tin cùng năm:

  • Khu vực địa lý được bảo hộ gồm các xã Nga Liên, Nga Tân, Nga Thủy và Nga Thanh.
  • Sản lượng cói Nga Sơn chiếm khoảng 30% cả nước; cói trồng ở 8 xã với trên 1.400 ha, sản lượng 23.000–24.000 tấn/năm; giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp từ cói đạt 180 đến trên 200 tỷ đồng.
  • Toàn huyện có 3 công ty và 10 xí nghiệp, hợp tác xã chuyên về cói; khoảng 35% số hộ chuyên sản xuất sản phẩm từ cói.
  • Khi ấy Thanh Hóa mới có hai chỉ dẫn địa lý: mắm tôm “Hậu Lộc” và cói “Nga Sơn”.

Năm 2012, Tuổi Trẻ Cuối tuần viết khoảng 1/3 gia đình ở Nga Sơn còn duy trì nghề làm chiếu. Chiếu bán ở chợ khoảng 300.000–400.000 đồng/đôi; chiếu đặt cho giường cưới, lễ làng loại 1,5 m giá 550.000–650.000 đồng/đôi, loại 1,6 m 1,8–2 triệu đồng/đôi. Vợ chồng anh Vũ Trọng Hảo (xóm 8, xã Nga Tiến) mỗi tháng dệt tay khoảng 25 lá chiếu đặt hàng, mỗi năm trữ 3–5 tấn cói.

Nghề chiếu hôm nay: đồng cói thu hẹp, khung dệt thưa dần

Từ đầu những năm 2010, diện tích cói giảm mạnh. Số liệu Báo Người Lao Động dẫn từ huyện (12/2023):

Thời điểmDiện tích cói
Trước năm 2010Trên 2.000 ha
Năm 2015858 ha
Năm 2023745 ha
Lộ trình năm 2025Khoảng 600 ha

Tháng 5/2025, Dân Việt dẫn con số dự kiến khoảng 700 ha cho năm 2025, còn SGGP dẫn Phòng Nông nghiệp huyện cho biết toàn huyện hiện có khoảng 700 ha cói. Huyện chủ trương diện tích giảm nhưng thâm canh để tăng giá trị; năm 2023 còn ban hành chính sách hỗ trợ 40 triệu đồng/ha để cải tạo, hạ thấp mặt bằng ruộng cói bỏ hoang (Người Lao Động). Từ trước đó, Sở VHTTDL Thanh Hóa (2019) đã ghi nhận một số vùng cói kém hiệu quả chuyển sang trồng lúa, nuôi trồng thủy sản.

Khung dệt thì thưa đi nhanh hơn. Ở xóm 7, xóm 8 xã Nga Liên, Báo Công giáo và Dân tộc (2023) chỉ còn gặp vài ba hộ dệt chiếu: thu nhập chỉ khoảng 20–30% giá mỗi lá, một ngày dệt được 2–4 lá, bán 100.000–300.000 đồng; chiếu dệt máy và chiếu nhựa nhập khẩu rẻ chỉ bằng khoảng 1/3. Ở Nga Thủy, bà Nguyễn Thị Thành nói chiếu trúc, chiếu nhựa rẻ hơn chiếu cói tới 10 lần (Người Lao Động). Phó trưởng phòng Nông nghiệp huyện Nguyễn Thị Hương cho biết nghề dệt chiếu truyền thống đã không còn chỗ đứng; phần lớn cói nay dùng làm hàng thủ công mỹ nghệ và cói chẻ xuất khẩu.

Cây cói vì thế vẫn xanh trên đồng, nhưng câu chuyện đã chuyển sang những chiếc giỏ, tấm thảm, túi xách đi khắp thế giới — xem tiếp ở bài Cói Nga Sơn thời hội nhập.

Xem thêm: Cói mỹ nghệ & OCOP Nga Sơn · Cửa Thần Phù · Dưa hấu Mai An Tiêm · Tra cứu địa danh

Nguồn tham khảo

Câu hỏi thường gặp

Câu “Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng” là ca dao hay thơ?

Hai câu “Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng / Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông” nằm trong bài thơ Việt Bắc (1954) của Tố Hữu. Nhiều báo vẫn gọi đó là ca dao vì câu thơ đã đi vào lời ăn tiếng nói dân gian.

Cói Nga Sơn trồng ở đâu?

Cói trồng chủ yếu trên đất bãi bồi nước lợ ở các xã ven biển cũ như Nga Liên, Nga Tân, Nga Thủy, Nga Tiến, Nga Thanh, Nga Thái, Nga Điền — nay thuộc các xã Hồ Vương, Tân Tiến, Nga Sơn và Nga An.

Một năm thu hoạch cói mấy vụ?

Hai vụ. Theo Báo Tin tức (TTXVN) và Dân Việt, vụ chiêm thu hoạch tháng 6–7, vụ mùa tháng 10–11. Sau mỗi vụ, người trồng làm cỏ, bón phân để cói mọc lại.

Dệt một lá chiếu cói mất bao lâu?

Mỗi khung chiếu cần hai người, một người luồn cói, một người dập go. Theo Wikipedia, hai người dệt một lá chiếu trơn mất khoảng 3–4 giờ; chiếu cải hoa dùng cói nhuộm màu thì mất cả ngày.

Chiếu cói Nga Sơn có chỉ dẫn địa lý chưa?

Có. Ngày 13/10/2011, Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý “Nga Sơn” số 00028 cho sản phẩm cói; UBND huyện Nga Sơn là đơn vị quản lý, khu vực địa lý gồm các xã Nga Liên, Nga Tân, Nga Thủy và Nga Thanh.

Diện tích cói Nga Sơn còn bao nhiêu?

Theo Báo Người Lao Động, trước năm 2010 Nga Sơn có trên 2.000 ha cói, năm 2015 còn 858 ha, năm 2023 còn 745 ha; lộ trình đến năm 2025 còn khoảng 600 ha. Tháng 5/2025, SGGP dẫn Phòng Nông nghiệp huyện cho biết toàn huyện có khoảng 700 ha cói.