Thanh Hóa Lưu giữ ký ức quê hương

Di sản Nga Sơn

Lịch sử · Sự tích · Địa danh · Tư liệu xưa

Nhân vật

Đinh Công Tráng (1842–1887) — thủ lĩnh khởi nghĩa Ba Đình ở Nga Sơn

11 tháng 7, 2026

Đinh Công Trángkhởi nghĩa Ba ĐìnhCần Vươngxã Ba Đìnhlịch sử Nga Sơn
Bưu ảnh đen trắng năm người Việt bị bắt trong cuộc vây hãm Ba Đình, ba người đeo gông tre trên cổ
Những người bị bắt trong cuộc vây hãm Ba Đình năm 1887, đeo gông tre — bưu ảnh của Pierre Dieulefils, hạ sĩ quan công binh Pháp ở Bắc Kỳ 1885–1887; chú thích gốc tiếng Pháp gọi họ là “pirates”. Ảnh: P. Dieulefils, Wikimedia Commons, phạm vi công cộng.

Thông tin nhân vật

Tên khác
丁功壯 (chữ Hán)
Năm sinh – mất
1842 – 1887
Quê quán
Làng Trinh Xá (Tràng Xá, Nham Tràng), xã Nham Kênh, huyện Thanh Liêm, Hà Nam (nay thuộc xã Thanh Lâm, tỉnh Ninh Bình)
Sự nghiệp
Cựu chánh tổng, thủ lĩnh quân sự khởi nghĩa Ba Đình (1886–1887) trong phong trào Cần Vương

Đinh Công Tráng (1842–1887) không sinh ra ở Nga Sơn — quê ông ở huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam cũ — nhưng tên tuổi ông gắn chặt với đất Nga Sơn qua khởi nghĩa Ba Đình (1886–1887), một trong những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất của phong trào Cần Vương. Ông là người chỉ huy xây dựng và trực tiếp cầm quân giữ căn cứ ba làng Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mỹ Khê — vùng đất nay thuộc xã Ba Đình.

Tên căn cứ ấy về sau được đặt cho vườn hoa trước Phủ Toàn quyền ở Hà Nội — nơi ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. Vì thế, mỗi lần nhắc đến quảng trường Ba Đình, người ta cũng đang nhắc đến một làng quê Nga Sơn và vị thủ lĩnh quê Thanh Liêm.

Quê quán và gia thế

Đinh Công Tráng (chữ Hán: 丁功壯) sinh năm Nhâm Dần (1842) tại làng Trinh Xá — có tài liệu ghi Tràng Xá, sau đổi tên là Nham Tràng — xã Nham Kênh, tổng Cẩm Bối, huyện Thanh Liêm, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (2013) ghi quê ông thuộc xã Thanh Tân, huyện Thanh Liêm. Theo Nghị quyết 1674/NQ-UBTVQH15 năm 2025, các xã Thanh Nghị, Thanh Tân và Thanh Hải hợp thành xã Thanh Lâm, thuộc tỉnh Ninh Bình mới.

Theo báo Thanh Hóa, ông xuất thân trong một gia đình làm thuốc; cha là danh y Đinh Văn Thành. Thuở trẻ, ông theo học Hoàng giáp Phạm Văn Nghị, đỗ Tam trường, rồi làm chánh tổng. Nhà thơ Tản Đà về sau gọi ông là người "Ninh-bình tỉnh" — một sự trùng hợp thú vị, vì từ năm 2025 quê ông quả thật thuộc tỉnh Ninh Bình.

Từ chánh tổng đến tướng Cần Vương (1882–1885)

Khi Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ hai (1882), Đinh Công Tráng đang làm chánh tổng thì tình nguyện gia nhập đội quân của Hoàng Kế Viêm ở Sơn Tây. Ông tham gia trận Cầu Giấy ngày 19/5/1883, trận đánh bại quân Pháp do Henri Rivière chỉ huy (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Thanh Niên). Theo báo Thanh Hóa, ông còn đánh ở Bảo Hà cùng quân Cờ Đen, ở vùng sông Thao cùng Nguyễn Quang Bích, tham gia giữ thành Sơn Tây và đánh ở Hà Đông.

Tháng 7/1885, kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra Tân Sở ban chiếu Cần Vương. Theo báo Thanh Hóa, Đinh Công Tráng được Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn mời vào Thanh Hóa. Cuối năm 1885, các thủ lĩnh Cần Vương ở Thanh Hóa họp bàn (Thanh Niên ghi họp ở chùa Trang Các, Hà Trung) và chủ trương lập căn cứ ngay giữa đồng bằng: Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Hoàng Bật Đạt nhận việc dựng căn cứ Ba Đình; Trần Xuân Soạn, Hà Văn Mao dựng căn cứ Mã Cao (Yên Định).

Kiến trúc sư của căn cứ Ba Đình

Tháng 2/1886, căn cứ được dựng trên đất ba làng Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mỹ Khê — mỗi làng có một ngôi đình, đứng ở đình làng này nhìn thấy đình hai làng kia, nên gọi là Ba Đình. Ba làng nằm giữa vùng đồng chiêm trũng, khoảng giữa lạch Càn và lạch Sung; mùa mưa trông như hòn đảo nổi giữa biển nước. Cùng dựng cờ với ông có Phạm Bành (từng làm Án sát Nghệ An), Hoàng Bật Đạt, Nguyễn Khế, Hà Văn Mao (người Mường), Cầm Bá Thước (người Thái), Nguyễn Đôn Tiết, Lê Toại…

Theo PGS.TS Hà Mạnh Khoa (dẫn trên báo Thanh Hóa) và một cựu sĩ quan nhiều năm sưu tầm tư liệu ở Ba Đình (dẫn trên Thanh Niên), danh nghĩa chỉ huy cao nhất là Phạm Bành, nhưng quyền chỉ đạo quân sự, xây thành đắp lũy và trực tiếp điều quân thuộc về Đinh Công Tráng — người ít tuổi nhất trong ba thủ lĩnh.

Hệ thống phòng thủ được mô tả như sau:

  • Vòng ngoài là lũy tre dày đặc và hào nước rộng; tiếp đến thành đất cao khoảng 3 m, chân rộng 8–10 m, mặt thành đủ rộng để đi lại (Thanh Niên). Báo Thanh Hóa thuật lời người địa phương: mỗi làng góp 30 rọ, 100 cây tre, 10 gánh rơm; thành được đắp hơn 1.000 m trong một đêm.
  • Bên trong có ba đồn Thượng (Thượng Thọ), Trung (Mậu Thịnh), Hạ (Mỹ Khê) nối nhau bằng giao thông hào, hầm hào hình chữ "Chi"; ngôi đình chung Bản Đình làm sở chỉ huy.
  • Vòng vệ tinh gồm các đồn Thanh Đán, Hang Giơi, Răng Cưa, núi Thúc, Xa Loan, Tố Hoàng, Tri Cụ và trạm quan sát trên núi Nga Châu; xa hơn có các căn cứ hỗ trợ Phi Lai, Quảng Hóa, Mã Cao.

Nghĩa quân khoảng 300 người gồm người Kinh, Mường, Thái, tuyển mộ ở Nga Sơn, Hậu Lộc, Hà Trung, trang bị súng hỏa mai, gươm giáo, cung nỏ; đông đảo dân địa phương lo vận lương, tải thương (Thanh Niên). Từ Ba Đình, nghĩa quân phục kích các đoàn vận tải trên đường Bắc – Nam, khiến người Pháp ví căn cứ là "con nhím" giữa đồng chiêm trũng.

Cuộc vây hãm Ba Đình (12/1886 – 1/1887)

Ngày 18/12/1886, khoảng 500 lính Pháp có pháo 80 ly yểm trợ đánh Ba Đình từ hai hướng — tây nam do trung tá Metzinger, đông bắc do trung tá Dodds chỉ huy — nhưng đều bị đánh lui. Pháp chuyển sang bao vây và cử đại tá Brissaud, người từng đánh thành Puebla ở Mexico, sang chỉ huy.

Ngày 6/1/1887, Brissaud chia quân làm ba mũi có pháo binh yểm trợ đánh vào căn cứ (Thanh Niên ghi gần 2.500 quân; Dân Việt cũng ghi 2.500). Các nguồn đều kể Pháp sau đó tăng quân lên khoảng 3.500; theo nhà nghiên cứu Dương Đình Lập, nghĩa quân do Đinh Công Tráng, Phạm Bành chỉ huy đã cầm cự 32 ngày đêm trước 3.530 lính (1.580 lính Pháp), 78 sĩ quan, 25 khẩu đại bác và 4 pháo hạm; số pháo sau tăng lên 36 khẩu. Ngày 20/1/1887, Brissaud cho công binh dùng vòi phun dầu đốt lũy tre, đại bác bắn dồn dập, biến Ba Đình thành biển lửa.

Đêm 20 rạng sáng 21/1/1887, Đinh Công Tráng cùng các thủ lĩnh tổ chức phá vây, rút về căn cứ Mã Cao (Yên Định). Sáng 21/1, quân Pháp vào Ba Đình, tàn phá làng mạc và buộc triều đình Huế xóa tên ba làng khỏi bản đồ hành chính.

Những ngày cuối (1887)

Ngày 2/2/1887, quân Pháp chiếm Mã Cao; nghĩa quân rút lên miền núi Ngọc Lặc, một bộ phận nhập với nghĩa quân Cầm Bá Thước. Phạm Bành và Hà Văn Mao bị bắt rồi tuẫn tiết. Đinh Công Tráng cùng một nhóm nghĩa quân vào Nghệ An định gây dựng lại lực lượng; theo Dân Việt, ông muốn liên lạc với nghĩa quân Phan Đình Phùng ở Nghệ Tĩnh.

Ông bị chỉ điểm và hy sinh ở huyện Đô Lương, Nghệ An khi mới 45 tuổi. Các nguồn còn khác nhau về chi tiết:

  • Ngày mất: Thanh Niên, Wikipedia (dẫn Việt sử tân biên và Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam) ghi 5/10/1887; Dân Việt ghi 6/10/1887; Từ điển bách khoa Việt Nam ghi 7/9/1887.
  • Nơi mất: làng Trung Yên, nay thuộc xã Thuần Trung, tỉnh Nghệ An (Thanh Niên, 2025); Dân Việt ghi làng Tang Yên, Việt sử tân biên ghi làng Tăng Yên.
  • Người tố giác: Việt sử tân biên chép lý trưởng làng Tăng Yên báo cho thiếu tá Coste, trưởng đồn Đô Lương; sách Hỏi đáp lịch sử Việt Nam lại ghi lý trưởng làng Chính An (dẫn theo Wikipedia).
Bìa sách Ba Đình của Phan Trần Chúc, chữ đỏ trên nền hoa văn rồng mây vàng, nhà xuất bản Đại La
Bìa cuốn “Ba Đình” của Phan Trần Chúc, nhà Đại La (Hà Nội) in năm 1945 — một trong những cuốn sách viết riêng về khởi nghĩa Ba Đình. Bản lưu chiểu ở Thư viện Quốc gia Pháp (Gallica), đã cắt khung. Ảnh: Phan Trần Chúc / Wikimedia Commons · Public domain

Đinh Công Tráng trong thơ văn và sử sách

Năm 1945, nhà văn Phan Trần Chúc cho in cuốn Ba Đình (nhà Đại La, Hà Nội), mở đầu bằng bài "Ba Đình ký (Thay lời tựa)" của Tản Đà viết theo thể lục bát. Nguyên văn trong sách:

Ninh-bình tỉnh có một người, Là Đinh Công-Tráng, tướng tài bẩm sinh, Hơn đời vũ-dũng, thông-minh, Hoàng, Lưu môn-hạ nổi danh Bắc-kỳ.

"Hoàng, Lưu" ở đây nhiều khả năng chỉ Hoàng Kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc (thủ lĩnh quân Cờ Đen) — hai đạo quân ông từng theo ở Bắc Kỳ. Bài lục bát cũng tả lại thế thành: "Trước thành giữ thế ruộng lầy, / Mặt thành xây đắp tre dày, bùn cao". (Một số bài báo dẫn câu này thành "Hơn người trí dũng thông minh / Tài lưu thiên hạ, nổi danh Bắc Kỳ" — khác với bản in năm 1945.)

Trang sách in bài lục bát Ba Đình ký (Thay lời tựa) của Tản Đà, có câu nhắc Đinh Công Tráng
Trang mở đầu bài “Ba Đình ký (Thay lời tựa)” của Tản Đà in trong sách “Ba Đình” (1945), có các câu “Chuyện Đinh Công-Tráng, Ba Đình ngày xưa” và “Ninh-bình tỉnh có một người”. Đã cắt khung. Ảnh: Tản Đà, Phan Trần Chúc / Wikimedia Commons · Public domain

Về phía đối phương, một sĩ quan Pháp tên Masson (Wikipedia ghi Mason) được dẫn lời nhận xét Đinh Công Tráng là người trọng kỷ luật, cương trực, nghiêm trị thủ hạ quấy nhiễu dân, nhẫn nại, "biết mình, biết người" và giỏi lập trận thế (Wikipedia dẫn theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam; báo Thanh Hóa cũng trích lời Masson).

Nơi tưởng niệm

  • Quảng trường Ba Đình (Hà Nội): ngày 20/7/1945, bác sĩ Trần Văn Lai được bổ nhiệm làm Đốc lý Hà Nội và cho đổi hàng loạt tên phố từ tiếng Pháp sang tiếng Việt; vườn hoa Puginier trước Phủ Toàn quyền được đổi thành vườn hoa Ba Đình để ghi nhớ cuộc khởi nghĩa và thủ lĩnh Đinh Công Tráng. Ngày 2/9/1945, Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân và Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại đây.
  • Di tích chiến khu Ba Đình (Nga Sơn): được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia — báo Đầu tư ghi theo Quyết định 3959-QĐ/BVHTT ngày 2/12/1992, Tuổi Trẻ ghi năm 1993. Năm 2012, Tuổi Trẻ phản ánh khu di tích chỉ có một nhà bia không có bia nằm trong khuôn viên trường THCS Ba Đình; năm 2014, người dân hiến hơn 8 ha đất cho dự án khu di tích. Ngày 30/6/2022, UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt dự án đền thờ các thủ lĩnh và nghĩa quân Ba Đình (Quyết định 2319/QĐ-UBND), diện tích quy hoạch 16.538 m², tổng mức đầu tư 95,5 tỉ đồng, kế hoạch thực hiện 2022–2024 (báo Thanh Hóa).
  • Quê nhà Thanh Liêm: theo trang giới thiệu di tích của huyện Thanh Liêm cũ, ở làng Nham Tràng có đền thờ Đinh Công Tráng nhìn ra sông Đáy (trang này hiện không còn truy cập được để đối chiếu).
  • Tên ông được đặt cho đường phố và công trình công cộng ở nhiều nơi.
Ảnh tư liệu lễ đài trang trí vải rủ, cột cờ cao, đoàn người đứng trên đài và đội danh dự phía dưới
Lễ đài ở vườn hoa Ba Đình (Hà Nội) ngày 2/9/1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. Tên Ba Đình được đặt cho vườn hoa này ít lâu trước đó, sau khi Trần Văn Lai nhậm chức Đốc lý (20/7/1945), để ghi nhớ cuộc khởi nghĩa ở Nga Sơn. Ảnh: Không rõ tác giả / Wikimedia Commons · Public domain

Đánh giá của hậu thế

Giới sử học đánh giá cao tài tổ chức và ý chí của Đinh Công Tráng: với vài trăm nghĩa quân, căn cứ Ba Đình cầm chân hàng nghìn lính Pháp có đại bác và pháo hạm suốt hơn một tháng. Nhưng cũng chính lối đánh ấy là nguyên nhân thất bại: nhóm tác giả Đại cương lịch sử Việt Nam (tập 2) cho rằng nghĩa quân phòng ngự bị động, lập chiến tuyến cố thủ ở vùng đồng chiêm trũng chật hẹp, dễ bị cô lập khi bị bao vây — điển hình của lối đánh "chiến tuyến cố định" (dẫn theo Wikipedia).

Với Nga Sơn, Đinh Công Tráng là người khách phương xa đã chọn ba làng nhỏ giữa đồng chiêm làm nơi quyết chiến, để rồi tên ba làng ấy đi vào sử sách và thành tên quảng trường thiêng liêng nhất của cả nước. Tên xã Ba Đình được giữ lại qua đợt sắp xếp năm 2025 — xem bảng tra cứu xã cũ – xã mới.

Niên biểu

NămSự kiện
1842Sinh năm Nhâm Dần ở làng Trinh Xá (Nham Tràng), huyện Thanh Liêm, Hà Nam
1882Đang làm chánh tổng, gia nhập quân Hoàng Kế Viêm khi Pháp đánh Bắc Kỳ lần hai
1883Tham gia trận Cầu Giấy (19/5), quân Pháp do Henri Rivière chỉ huy bị đánh bại
1885Kinh thành Huế thất thủ (7/1885), chiếu Cần Vương ban ra; cuối năm, các thủ lĩnh Cần Vương Thanh Hóa bàn lập căn cứ ở đồng bằng
1886Tháng 2: cùng Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt… dựng căn cứ Ba Đình; 18/12: đánh lui 500 lính Pháp
18876/1: Brissaud tấn công; đêm 20 rạng 21/1: phá vây rút về Mã Cao; 2/2: Mã Cao thất thủ
18875/10 (theo đa số nguồn): hy sinh ở Đô Lương, Nghệ An
1945Vườn hoa Puginier ở Hà Nội đổi tên thành vườn hoa Ba Đình; sách Ba Đình của Phan Trần Chúc ra đời
1992Di tích chiến khu Ba Đình được xếp hạng di tích quốc gia (có nguồn ghi 1993)
2022Phê duyệt dự án đền thờ các thủ lĩnh và nghĩa quân Ba Đình (30/6)

Xem thêm: Khởi nghĩa Ba Đình (1886–1887) · Xã Ba Đình · Dòng thời gian lịch sử Nga Sơn · Hồ Quý Ly và dấu tích Hồ Vương

Nguồn tham khảo

Câu hỏi thường gặp

Đinh Công Tráng quê ở đâu?

Ông sinh năm Nhâm Dần (1842) ở làng Trinh Xá (còn gọi Tràng Xá, sau đổi là Nham Tràng), xã Nham Kênh, tổng Cẩm Bối, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Theo Nghị quyết 1674/NQ-UBTVQH15, vùng này từ năm 2025 thuộc xã Thanh Lâm, tỉnh Ninh Bình. Ông không phải người Nga Sơn.

Đinh Công Tráng có vai trò gì trong khởi nghĩa Ba Đình?

Trên danh nghĩa, Phạm Bành đứng đầu căn cứ Ba Đình, nhưng Đinh Công Tráng là người chỉ huy xây thành, đắp lũy và trực tiếp điều quân tác chiến. Theo PGS.TS Hà Mạnh Khoa, ông là người ít tuổi nhất trong ba thủ lĩnh chính của căn cứ.

Căn cứ Ba Đình nay thuộc xã nào?

Ba làng Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mỹ Khê thuộc xã Ba Đình cũ của huyện Nga Sơn; từ ngày 1/7/2025, xã Ba Đình mới được lập từ Ba Đình cũ, Nga Vịnh, Nga Trường và Nga Thiện, vẫn giữ tên Ba Đình.

Đinh Công Tráng hy sinh khi nào, ở đâu?

Phần lớn tài liệu ghi ông hy sinh ngày 5/10/1887 ở làng Trung Yên (có nơi ghi Tăng Yên), huyện Đô Lương, Nghệ An; một số nguồn ghi ngày 6/10, còn Từ điển bách khoa Việt Nam ghi ngày 7/9/1887.

Quảng trường Ba Đình ở Hà Nội có liên quan gì đến Nga Sơn?

Có. Năm 1945, Đốc lý Hà Nội Trần Văn Lai đổi tên vườn hoa Puginier thành vườn hoa Ba Đình để ghi nhớ cuộc khởi nghĩa Ba Đình ở Nga Sơn và thủ lĩnh Đinh Công Tráng. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại đây.