Thanh Hóa Lưu giữ ký ức quê hương

Di sản Nga Sơn

Lịch sử · Sự tích · Địa danh · Tư liệu xưa

Nhân vật

Thám hoa Mai Anh Tuấn (1815–1851) — Thám hoa đầu tiên triều Nguyễn

15 tháng 7, 2026

Mai Anh TuấnThám hoakhoa bảngtriều NguyễnNga Thắngdanh nhân Nga Sơn
Cổng Văn Miếu Môn của Văn Miếu Huế, phía sau là sông Hương
Văn Miếu Môn — cổng Văn Miếu (Văn Thánh) Huế bên sông Hương, nơi đặt bia tiến sĩ triều Nguyễn. Ảnh chụp năm 2008. Ảnh: Lưu Ly, Wikimedia Commons, phạm vi công cộng.

Thông tin nhân vật

Tên khác
Tên thật Mai Thế Tuấn, tự Lương Phu
Năm sinh – mất
1815 – 1851
Quê quán
Làng Thạch Giản (thôn Hậu Trạch), xã Nga Thạch (nay thuộc xã Nga Thắng)
Sự nghiệp
Đình nguyên Thám hoa khoa Quý Mão 1843, Án sát sứ Lạng Sơn, tử trận năm 1851

Thám hoa Mai Anh Tuấn (1815–1851), tên thật là Mai Thế Tuấn, tự Lương Phu, là người Nga Sơn đỗ cao nhất trong lịch sử khoa cử của vùng đất này: Đình nguyên Thám hoa khoa Quý Mão 1843 — người đỗ đệ nhất giáp đầu tiên của triều Nguyễn. Ông còn được nhớ đến vì dám dâng sớ can vua Tự Đức, rồi ngã xuống nơi biên ải Lạng Sơn khi mới ngoài ba mươi tuổi.

Bài viết tổng hợp từ tài liệu Châu bản triều Nguyễn do Trung tâm Lưu trữ quốc gia I giới thiệu, nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và các bài của Báo Thanh Hóa. Ở những chỗ các nguồn ghi khác nhau, bài nêu cả hai phương án.

Quê quán và gia thế dòng họ Mai

Theo nghiên cứu của Phan Văn Các (Viện Nghiên cứu Hán Nôm), Mai Anh Tuấn người làng Thạch Giản, tổng Thạch Giản, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung. Báo Thanh Hóa (2024) ghi nguyên quán của ông là thôn Hậu Trạch, xã Nga Thạch — nơi có đền thờ ông ngày nay. Xã Nga Thạch cũ nay thuộc xã Nga Thắng sau đợt sắp xếp năm 2025.

Làng Hậu Trạch được lập từ thời Lý, ven sông Lèn — một phân lưu của sông Mã. Thuở đầu là làng chài Vạn Chài, sau đổi thành Thạch Tuyền Vạn, rồi Bảo Đạc (thời Hậu Lê), đến thời Nguyễn mới gọi là Hậu Trạch. Tên Bảo Đạc mượn ý chiếc mõ gỗ (mộc đạc) trong lời học trò ca ngợi Khổng Tử, cho thấy làng sớm trọng việc học (Báo Thanh Hóa, 2024, dẫn sách Lịch sử Đảng bộ xã Nga Thạch).

Ông sinh năm 1815 tại thôn Lang Miến, phường Thịnh Hào, huyện Hoàn Long — nay thuộc khu vực Hoàng Cầu, Đống Đa, Hà Nội — nơi cha ông làm quan. Theo Đại Nam liệt truyện (dẫn theo Trung tâm Lưu trữ quốc gia I), dòng họ ông nhiều đời làm quan:

  • Cụ tổ tám đời là Phụ quốc công thần Toàn quận công.
  • Cụ tổ bốn đời là Mai Thế Chuẩn, Binh bộ Thị lang, tước Hương lĩnh hầu — vị tiến sĩ khoa Tân Hợi 1731 của làng (xem Mai Thế Chuẩn).
  • Ông nội tên Mông, làm Đồng binh chương sự.
  • Cha là Mai Thế Trinh, Tri huyện Thanh Trì.

Về tên mẹ ông, các nguồn ghi khác nhau: tài liệu Châu bản và Đại Nam liệt truyện chép là Dương Thị Chi, người làng Thịnh Hào; Báo Thanh Hóa và báo Giáo dục và Thời đại ghi là Dương Thị Lan.

Đường khoa cử: từ “lấy đỗ thêm” đến Đình nguyên Thám hoa

Báo Thanh Hóa (2024) cho biết ông đỗ Tú tài năm 1834, khi 19 tuổi. Theo gia phả họ Mai, ông đỗ tú tài lần đầu ở trường thi Nam Định, sau sang ghi danh thi Hương ở trường Nghệ An.

Khoa thi Hương Đinh Dậu 1837 (Minh Mệnh 18), ông bị trường Nghệ An đánh hỏng. Theo Đại Nam thực lục, cả trường năm ấy chỉ lấy đỗ 5 người nên vua Minh Mệnh sai duyệt lại quyển thi, lấy đỗ thêm 15 người — trong đó có Mai Thế Tuấn. Ba năm sau, khoa Canh Tý 1840 (Minh Mệnh 21), ông đỗ đầu kỳ thi Hương.

Khoa thi Quý Mão 1843 — ân khoa năm Thiệu Trị thứ 3 — ông đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, tức Thám hoa, lại đứng đầu kỳ thi Đình nên gọi là Đình nguyên Thám hoa. Sách Đại Nam nhất thống chí ghi ông là người đỗ đệ nhất giáp đầu tiên của triều Nguyễn (dẫn theo Báo Thanh Hóa, 2021).

Theo sách Danh sĩ Thanh Hóa và việc học thời xưa (dẫn theo Báo Thanh Hóa, 2024), vua Thiệu Trị tiếc vì luật nhà Nguyễn không cho phong Trạng nguyên, khen bài văn của ông hơn hẳn các tiến sĩ khoa ấy và nhiều khoa trước. Vua đổi chữ “Thế” thành chữ “Anh” — từ đó ông mang tên Mai Anh Tuấn — và ban cho ông một bài thơ.

Hai dãy nhà bia tiến sĩ hai bên lối đi lát gạch trong Văn Miếu Huế
Hai dãy nhà bia trong Văn Miếu Huế. Theo Dân trí, nơi đây có 32 tấm bia khắc tên 293 tiến sĩ triều Nguyễn, các khoa từ năm 1822 đến 1919. Ảnh chụp năm 2008. Ảnh: Lưu Ly / Wikimedia Commons · Phạm vi công cộng

Để thấy học vị ấy cao đến đâu: theo thống kê của Phan Văn Các, qua 183 khoa thi từ năm 1075 đến 1919, khoa cử Việt Nam có 2.898 tiến sĩ, trong đó chỉ 75 người đỗ Thám hoa; cao hơn chỉ có 47 Trạng nguyên và 48 Bảng nhãn.

Bài văn sách thi Đình: trị nước phải có cả văn lẫn võ

Mai Anh Tuấn không để lại trước tác nào được biết đến; những gì còn lại chỉ là bản sao các bài văn thi Hương và thi Đình của ông (Phan Văn Các, Thông báo Hán Nôm học 2006).

Ở kỳ thi Đình 1843, nhà vua ra đề hỏi về đạo văn – võ, về dấu tích các bậc đế vương xưa đã làm và cách trị nước đương thời. Bài đối sách của ông mở đầu bằng câu “Lý quốc chi yếu, tại văn dữ võ” — điều cốt yếu của việc trị nước nằm ở văn và võ. Ông lập luận văn để sửa sang việc trị, võ để giữ uy với giặc, thiếu một bên cũng không được, rồi dẫn chứng từ thời Nghiêu, Thuấn qua các đời Hán, Đường, Tống.

Phan Văn Các nhận xét bài văn cho thấy hiểu biết thời sự và lý tưởng chính trị của tác giả — cũng chính tư tưởng “văn võ kiêm toàn” ấy về sau thể hiện ở tờ sớ can vua và những ngày ông cầm quân ở Lạng Sơn.

Làm quan trong Nội các

Theo Đại Nam thực lục, tháng 12 năm 1843 vua đặt chức Hàn lâm viện Trước tác, trật Chánh lục phẩm, và bổ ngay tân khoa Mai Anh Tuấn vào chức này. Ông sung Hành tẩu, rồi làm Thị độc ở Bí thư sở thuộc Nội các — nơi giúp vua về công văn giấy tờ. Tháng 5 năm 1847, ông được thăng Thị giảng học sĩ, vẫn sung Hành tẩu sở Bí thư tòa Nội các. Một số tài liệu khác (Báo Thanh Hóa, Phan Văn Các) ghi chức sau cùng của ông ở kinh là Thị độc học sĩ.

Tờ sớ can vua Tự Đức

Một viên quan nhà Thanh ở Quảng Đông (Việt Đông) là Ngô Hội Lân gặp bão, trôi dạt sang nước ta. Triều đình cho thuyền đưa về; bộ Lễ và bộ Hộ xin theo lệ cũ, chở theo thóc gạo, gỗ quý và hai vạn lạng bạc để sang mua hàng hóa chở về.

Mai Anh Tuấn dâng sớ can. Ông cho rằng việc buôn bán ở Việt Đông đã có lệnh đình chỉ, nay mượn tiếng giúp người gặp nạn để đi buôn thì nước láng giềng sẽ không hiểu thuyền ấy là thuyền gì. Trong khi đó, thổ phỉ từ nhà Thanh đang tràn sang Lạng Sơn — tai họa của dân mình lớn hơn nhiều. Ông xin đem số hàng hóa ấy thưởng cho binh lính để dẹp giặc nơi biên giới (Báo Thanh Hóa, 2021, theo Đại Nam chính biên liệt truyện).

Vua Tự Đức cho là ông nói lời khinh nhờn, bất kính, giao xuống nghị tội. Các quan viện Đô sát dâng sớ xin khoan tha. Kết cục ông chịu án cách chức lưu nhiệm và bị đổi làm Án sát sứ Lạng Sơn.

Về thời điểm, các nguồn chép khác nhau: Báo Thanh Hóa và báo Giáo dục và Thời đại, theo Đại Nam chính biên liệt truyện, ghi là năm Mậu Thân 1848, năm đầu Tự Đức; còn Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, dẫn Đại Nam thực lục, ghi ông dâng sớ vào tháng 2 năm Tự Đức thứ 4 (1851) và nhận lệnh đổi đi Lạng Sơn vào tháng 4 năm ấy.

Án sát Lạng Sơn và trận Thiết Khê

Bấy giờ giặc đang lan rộng ở Lạng Sơn, nhiều người coi chuyến đi ấy là nguy hiểm, nhưng ông vào bái mạng rồi lên đường ngay. Bản tấu của Bộ Lại ngày 17 tháng 5 năm Tự Đức thứ 4 dẫn sớ của Tuần phủ Lạng Bằng Trương Hảo Hợp: ngày 2 tháng 5 âm lịch năm 1851, Mai Anh Tuấn đã đến tỉnh, nhận ấn triện ty Án sát.

Mới hơn một tháng sau, ông cùng Thự Chưởng vệ Nguyễn Đạc đánh thắng giặc ở Hữu Khánh. Vua thưởng Nguyễn Đạc một đồng Phi Long kim tiền, Mai Anh Tuấn được ghi kỷ lục hai lần, binh lính được thưởng chung 600 quan tiền (Châu bản triều Nguyễn).

Sau đó, giặc Tam Đường tụ hơn 3.000 người ở xã Hữu Sản (huyện An Bác) chia nhau đi cướp phá. Theo Đại Nam thực lục, Nguyễn Đạc và Mai Anh Tuấn đem hơn 1.000 quân tiến đánh; giặc lui về Thiết Khê (huyện An Bác). Nguyễn Đạc chia quân ba đạo đuổi theo, Mai Anh Tuấn tiếp ứng. Đến trước Thiết Đàm, gặp ruộng lầy, Nguyễn Đạc dẫn 80 người lội sang trước thì bị giặc quay lại bắn chết. Nguyễn Thọ Kỷ và Mai Anh Tuấn đem quân qua đầm cứu viện, đều bị giặc giết.

Bản phúc trình của Bộ Binh ngày 3 tháng 8 năm Tự Đức thứ 4 (1851) liệt kê những người tử trận, trong đó có Án sát sứ Mai Anh Tuấn. Một số bài báo ghi nơi ông mất là Thất Khê; Đại Nam thực lục chép là Thiết Khê.

Riêng bài của Phan Văn Các (2006) chép khác hẳn: ông mất năm Ất Mão 1855 (Tự Đức 8) khi cùng Chưởng vệ Nguyễn Đặc đuổi giặc Lộc Bình. Trong khi đó, các văn bản Châu bản đương thời (tấu của Bộ Lại, phúc trình của Bộ Binh) đều đề năm Tự Đức thứ 4, tức 1851.

Truy tặng, nơi an táng, đền thờ và tưởng niệm

Nghe tin, vua Tự Đức miễn án cách chức cho ông và truy tặng hàm Hàn lâm viện Trực học sĩ. Đại Nam thực lục chép lời vua thương ông là học trò mà xông pha trận mạc, không nghĩ đến thân mình — “Trẫm thương rỏ nước mắt”.

Theo Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, vua lệnh tỉnh Lạng Sơn đưa linh cữu ông về quê chôn cất; Báo Thanh Hóa ghi vua cho đem thi hài ông về an táng tại Hoàng Cầu. Các nguồn đều thống nhất: phần mộ và miếu thờ ông ở làng Hoàng Cầu (Hà Nội), được con cháu và dân làng hương khói. Linh vị ông được phối thờ ở gian thứ nhất bên hữu đền Trung Nghĩa, Kinh thành Huế, cùng các danh thần triều Nguyễn.

Theo lệnh vua, tỉnh Lạng Sơn và Thanh Hóa đều lập đền thờ ông; Báo Lạng Sơn (2026) ghi một đền dựng ở Đoàn Thành, tỉnh lỵ Lạng Sơn. Năm 1859, vua còn sai cấp cho mẹ ông — khi ấy đã ngoài 70 tuổi — 30 quan tiền và 10 thăng gạo. Ông chỉ có một người con trai là Mai Thế Doãn, lúc ấy mới 16 tuổi (Châu bản triều Nguyễn).

Đền Quan Thám ở làng Hậu Trạch

Tại quê nhà, đền thờ Thám hoa Mai Anh Tuấn — tên chữ Hán “Thám hoa quan từ”, dân gian gọi là đền Quan Thám — nằm ở làng Hậu Trạch, xã Nga Thạch cũ (nay xã Nga Thắng). Đền rộng 544 m², phía đông giáp chùa cổ Thạch Tuyền, phía nam giáp sông Lèn. Đền được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1991 (Báo Thanh Hóa).

Đền còn giữ 3 tấm bia cổ bằng đá nguyên khối, trán và diềm bia chạm rồng chầu mặt nguyệt, hoa cúc; trong đó có bản sao bia ghi tên các tiến sĩ khoa Quý Mão. Dòng họ Mai còn giữ một tấm bia ghi họ tên, chức tước 6 vị họ Mai thời Lê Trung hưng. Người trông đền nhiều năm là ông Mai Thế Kiệm, hậu duệ đời thứ 13 (Báo Thanh Hóa, 31/5/2024).

Phố, trường học mang tên ông

  • Phố Mai Anh Tuấn (Đống Đa, Hà Nội) được đặt tên tháng 6/2008. Phố dài khoảng 900 m, bắt đầu từ phố Hoàng Cầu và chạy ven hồ (tạp chí Người Hà Nội, 2017); VnExpress (2025) nhắc phố Mai Anh Tuấn là một trong các phố bao quanh hồ Hoàng Cầu.
  • Trường THPT Mai Anh Tuấn (Nga Sơn) thành lập năm 1986 từ phân hiệu 2 của Trường cấp 3 Nga Sơn. Từ năm học 1999–2000, trường chuyển về khu Hồ Vương, giữa hai xã Nga Thành và Nga Liên cũ — nay thuộc xã Hồ Vương — và mang tên Mai Anh Tuấn (Báo Thanh Hóa, 2016).
  • Trong ngân hàng tên đường của tỉnh Thanh Hóa (Nghị quyết 59/2025/NQ-HĐND), tên Mai Anh Tuấn được ghi là đã dùng đặt cho đường và công trình công cộng.
Mặt hồ Hoàng Cầu ở quận Đống Đa, Hà Nội, bờ bên kia là dãy nhà phố
Hồ Hoàng Cầu (Đống Đa, Hà Nội) năm 2008. Phố Mai Anh Tuấn chạy ven hồ, gần vùng Hoàng Cầu xưa — nơi ông sinh ra và có mộ, miếu thờ ông. Ảnh: Nguyễn Thanh Quang / Wikimedia Commons · CC BY-SA 3.0

Đánh giá của hậu thế

Đại Nam chính biên liệt truyện nhận xét Mai Anh Tuấn là bậc “sĩ phu có khí phách”: hòa nhã với người dưới, thờ vua bằng lòng trung và lời can ngăn, gặp việc thì giữ trọn điều nghĩa. Sau khi ông mất, sĩ phu trong nước thương tiếc, dựng đền thờ ông.

Báo Giáo dục và Thời đại dẫn bài văn tế của Nguyễn Văn Giai tôn vinh ông bằng “bốn chữ vàng”: hiếu, trung, nghĩa, dũng. Nghị quyết 59/2025/NQ-HĐND của tỉnh Thanh Hóa tóm tắt ông là “Thị độc học sỹ kiêm Tham biện thời nhà Nguyễn”, quê xã Nga Thắng.

Đỗ cao nhất một thời, dám nói thẳng điều mình cho là đúng, rồi ngã xuống khi làm tròn phận sự nơi biên ải — cuộc đời ông là một trang đẹp về đạo học và khí tiết của người Nga Sơn.

Niên biểu Mai Anh Tuấn

NămSự kiện
1815Sinh tại thôn Lang Miến, huyện Hoàn Long (nay khu vực Hoàng Cầu, Đống Đa, Hà Nội)
1834Đỗ Tú tài, năm 19 tuổi
1837Thi Hương ở trường Nghệ An, bị đánh hỏng rồi được lấy đỗ thêm theo lệnh vua Minh Mệnh
1840Đỗ đầu kỳ thi Hương khoa Canh Tý
1843Đỗ Đình nguyên Thám hoa ân khoa Quý Mão; được vua Thiệu Trị đổi tên Anh Tuấn; tháng 12 bổ Hàn lâm viện Trước tác
5/1847Thăng Thị giảng học sĩ, sung Hành tẩu sở Bí thư Nội các
1848 hoặc 1851Dâng sớ can vua Tự Đức; bị cách chức lưu nhiệm (năm ghi khác nhau tùy nguồn)
4/1851Đổi làm Án sát sứ Lạng Sơn; ngày 2/5 âm lịch nhận ấn triện
1851Thắng trận Hữu Khánh; sau đó tử trận ở Thiết Khê (An Bác, Lạng Sơn)
3/8 âm lịch 1851Bộ Binh phúc trình; vua truy tặng Hàn lâm viện Trực học sĩ
1859Vua Tự Đức ban tiền, gạo cho mẹ ông
1986Thành lập Trường cấp 3 Nga Sơn II, sau mang tên THPT Mai Anh Tuấn (năm học 1999–2000)
1991Đền thờ ở làng Hậu Trạch được xếp hạng di tích quốc gia
6/2008Hà Nội đặt tên phố Mai Anh Tuấn

Xem thêm: Tiến sĩ Mai Thế Chuẩn · Xã Nga Thắng · Dòng thời gian lịch sử Nga Sơn

Nguồn tham khảo

Câu hỏi thường gặp

Thám hoa Mai Anh Tuấn quê ở đâu?

Sử cũ ghi ông người làng Thạch Giản, tổng Thạch Giản, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung; Báo Thanh Hóa ghi nguyên quán thôn Hậu Trạch, xã Nga Thạch — nay thuộc xã Nga Thắng. Ông sinh ở thôn Lang Miến, huyện Hoàn Long, nay thuộc khu vực Hoàng Cầu (Đống Đa, Hà Nội).

Vì sao Mai Anh Tuấn được gọi là Thám hoa đầu tiên của triều Nguyễn?

Khoa Quý Mão 1843 (Thiệu Trị thứ 3), ông đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa) và là Đình nguyên khoa ấy. Đại Nam nhất thống chí ghi ông là người đỗ đệ nhất giáp đầu tiên của triều Nguyễn.

Mai Anh Tuấn mất năm nào, ở đâu?

Theo Châu bản và Đại Nam thực lục (Trung tâm Lưu trữ quốc gia I giới thiệu), ông tử trận năm Tự Đức thứ 4 (1851) ở vùng Thiết Khê, huyện An Bác, tỉnh Lạng Sơn khi đánh giặc Tam Đường. Bài nghiên cứu của Phan Văn Các (2006) lại ghi năm 1855.

Vì sao Mai Anh Tuấn bị đưa lên Lạng Sơn?

Ông dâng sớ can vua Tự Đức về việc đưa thuyền hộ tống một viên quan nhà Thanh về Quảng Đông kèm hàng hóa và bạc để buôn bán. Vua cho là lời lẽ bất kính, giao xuống nghị tội; ông bị cách chức lưu nhiệm và đổi làm Án sát sứ Lạng Sơn.

Đền thờ Mai Anh Tuấn ở đâu?

Đền thờ (Thám hoa quan từ, dân gian gọi đền Quan Thám) ở làng Hậu Trạch, xã Nga Thạch cũ, nay thuộc xã Nga Thắng, được xếp hạng di tích quốc gia năm 1991. Mộ và miếu thờ ông ở làng Hoàng Cầu (Hà Nội); linh vị ông được phối thờ ở đền Trung Nghĩa, Kinh thành Huế.

Trường THPT Mai Anh Tuấn ở đâu?

Trường thành lập năm 1986 (Trường cấp 3 Nga Sơn II), từ năm học 1999–2000 chuyển về khu Hồ Vương, giữa hai xã Nga Thành và Nga Liên cũ (nay thuộc xã Hồ Vương), và mang tên Mai Anh Tuấn (Báo Thanh Hóa, 2016).